Nhập trạch khai trương - Minh Đường

Nghi Lễ Dân Gian-Nhập Trạch Khai Trương
NXB Thời Đại 2010
Minh Đường
168 Trang
Tóm tắt: Sách giới thiệu một số kinh nghiệm trong dân gian về các nghi lễ nhập trạch, khai trương khi về nhà mới hoặc nơi kinh doanh mới

Từ xa xưa đến nay, khi dọn vào một ngôi nhà mới, thì người Việt đều làm lễ nhập trạch – đây cũng là một nghi lễ quan trọng trong những nghi lễ cổ truyền của người Việt.
Để những người sống trong ngôi nhà mới được khỏe mạnh, hạnh phúc và bình an, làm ăn tấn tới, tài lộc dồi dào, gặp mọi điều may mắn tốt lành, khi tiến hành lễ nhập trạch, nhất thiết phải tuân thủ một số nghi thức quy định về mặt phong thủy, như chọn ngày và giờ tốt, đồ đạc trong nhà phải do chính những người trong gia đình chuyển đến, gia chủ là người đưa bài vị của Gia thần, Gia tiên đến ngôi nhà mới, làm lễ cúng Thần linh và Gia tiên để cầu xin sự phù hộ độ trì cho cả gia đình khỏe mạnh bình an. Trong kinh doanh, buôn bán cũng vậy, khi xây cất xong (hoặc thuê) nhà xưởng, cửa hàng, văn phòng… để bắt đầu công việc, người Việt ta thường tiến hành làm lễ khai trương… Việc làm này nhằm mục đích cầu mong cho công việc làm ăn được hanh thông, thuận lợi, nhiều tài lộc, vạn sự bình an.
Nghi lễ Dân gian – Nhập trạch, khai trương sẽ giúp bạn đọc có thêm nhiều kinh nghiệm bổ ích khi thực hiện nghi lễ nhập trạch, khai trương cửa hàng, văn phòng, công ty… nhằm hướng tới sự thịnh vượng cát tường và an lành cho gia chủ.





Nhâm độn đại toàn Tập 2


GIỚI THIỆU

Những phép Chiêm đoán theo âm dương ngũ hành thường thấy ở Việt Nam: Những phép chiêm đoán dùng theo âm dương ngũ hành thường thấy ở Việt Nam trong 1 thế kỷ qua có nhiều loại, ở đây chỉ nếu một số loại thường gặp.
  1. Tử vi : Môn tử vi có ở Việt Nam đã lâu nhưng ở Miền Bắc rộ lên và được nhiều người biết đến từ sau năm 1975 khi miền nam hoàn toàn giải phóng.
    Đây là một môn khoa học nói về con người về đời người, nếu đương số có đủ 4 thông số ngày, giờ, tháng, năm sinh thì có thể lập 1 lá số. Nếu người có trí nhớ tốt, nghiên cứu tỉ mỉ cẩn thận thì có thể nói những diễn biến của con người về những điều họa, phúc, may, rủi của đời người độ chính xác tới 80%, nhưng phải nói ngày giờ tháng năm sinh chính xác, nếu nói sai là lấy lá số sai, hoặc không nhớ 04 thông số thì không lập được, dù có lá số đúng nhưng muốn hỏi một số việc như : Tôi muốn bán ngôi nhà đến khi nào bán được, tôi muốn hùn vốn làm ăn với người ta liệu có thành công không? những câu hỏi này dù người làm tử vi có giỏi cũng không thể trả lời quyết đoán, đấy là mặt hạn chế của khoa tử vi.
  2. Mai hoa dịch số : Cũng sử dụng 64 quẻ trong Kinh Dịch, tính theo hậu thiên bát quái, cách lập quẻ là tính giờ, khi những hiện tượng xảy ra như chim bay, gà gáy, chó sủa, sắc mặc người chợt gặp ngoài đường. vv..v….. những hiện tượng, những cảnh quan, đều là yếu tố bên ngoài, lại còn tùy thuộc vào tâm trạng và sự nắm bắt của người lập quẻ, nhưng thường chưa có độ chính xác cao.
  3. Kỳ môn độn giáp : Môn này chủ yếu dùng cho quân sự, như an đinh, hạ trại, hành quân nếu tiến công thì lợi chủ hay lợi khác vv… nên không áp dụng gì nhiều cho cuộc sống đời thường.
  4. Bói dịch : Chủ yếu dựa vào 64 quẻ Kinh dịch vào âm dương ngũ hành, vào 6 hào, lục thân, lục thần để làm ra quẻ, phép gieo quẻ bằng 3 đồng xu hiện nay là thông dụng nhất nhưng phải tuân thủ 3 yếu tó quan trọng là :
    1. Người gieo quẻ phải tập trung suy nghĩ vào việc mình cần hỏi ( không nghĩ lan man sang việc khác)
    2. Người đến hỏi quẻ phải tập trung suy nghĩ về điều mình cần hỏi
    3. Cách lập quẻ thích đáng, và phải hiểu thuần thục phương pháp đoán quẻ
Nếu làm đúng 3 yếu tố trên thì quẻ rất chính xác và linh nghiệm lạ thường. Có những công việc phải đi xa, hoặc các việc hệ trọng của gia đình, như xây lại mộ, khai trương cửa hàng …. hay đại loại là những công việc chính đáng thì kết quả rất mỹ mãn, chuẩn xác và linh nghiệm lạ thường nhưng mỗi lần gieo quẻ chỉ hỏi được một việc, nếu muốn hỏi sang chuyện khác thì phải gieo quẻ lại. Chẳng những vậy 3 đồng xu dày mỏng nặng nhẹ khác nhau, nhất là tâm trạng của người hỏi quẻ và người gieo quẻ đều ảnh hưởng đến kết quả của quẻ bói.
Người đến hỏi quẻ lại hỏi những việc không đúng đắn như : Tôi đi đánh bạc có được không? Tôi đi buôn trốn thuế có thoát không? Tôi muốn bỏ anh này để lấy anh kia có được không?
Nếu bói hỏi như vậy là báng bổ thần linh và chính bản thân người gieo quẻ đã tự đánh mất đi cái đạo mà tiên thánh tiên hiền đã ban cho, nói chung là đem sử dụng Kinh Dịch vào những việc bất chính thì Kinh Dịch không còn linh nghiệm nữa.
4. Môn Đại lục nhâm : Môn đại lục nhâm không biết có từ khi nào và do vị tiên thánh tiên hiền nào biên soạn, trong sách thường nêu những ví dụ về tên người, tên đất của thời Tam Quốc và chủ yếu dựa vào 64  quẻ trong kinh dịch, cách soạn thảo cũng khoa học hơn, cặn kẻ hơn các cuốn khác.. Rất có thể môn Đại lục nhâm có từ thời Tam Quốc (220 -280). Đây là một kỳ thư được biên soạn rất công phu tỷ mỷ, giảng giải cặn kẻ từng chi tiết. Lục nhâm là 6 chữ Nhâm ở trong lục thập hoa giáp đó là : Nhầm Dần, Nhâm Tý, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất.
Đại lục Nhâm kết hợp Âm-Dương, ngũ hành, thập can, thập nhị chi, 24 tiết khí trong năm để tìm ra Nguyệt tướng, lấy giờ chiêm quẻ để lập thiên bàn, thiên địa, 12 thiên thần, 12 thiên tướng, sử dụng sự chế hóa sinh khắc của âm dương ngũ hàn, vượng tướng hưu tù, sinh vượng, sinh vượng, mộ tuyệt, hình, xung, phá, hại, tam hợp, lục hợp. Tất cả những cái đó dệt nên một tấm lưới của tạo hóa không gì có thể ra ngoài tấm lưới đó được. Về chiều rộng thì vô cùng rộng lớn, về chiều sâu thì vô cùng sâu sắc, do vậy khi lập xong một quẻ ( độ 5 phút ) thì có thể chiêm đoán được nhiều việc cho một người, những việc quan trọng người đó đang mưu vọng, sẽ xảy ra lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối, vận hạn trong năm, nhà cửa, cha mẹ, vợ con, anh em  …
Quẻ được trải ra 12 cung và tam truyền, việc chiêm đoán không bị bó hẹp nhưng cũng rất kẹn kẽ ở những vấn đề người đến hỏi đang quan tâm. Đây là một kỳ thư được biên soạn công phu tỷ mỷ theo trình tự từ dễ đến khó có giải thích kỹ càng, có quẻ kiểu mẫu để dễ tham khảo, hệt như một cuốn sách giao khoa.
Một ví dụ nhỏ : Can Giáp thuộc Mộc với Can Mậu thuộc Thổ là can phá, vì sao lại phá > Can giáp thuộc mộc với Can kỷ thuộc thổ là can hợp, vì sao là hợp. Các điều khác nữa tương tự đều có giải thích cẩn thận rõ ràng, chứ không mơ hồ để ai muốn hiểu đến đâu thì hiểu.

Link download:
 Nhâm độn đại toàn Tập 2

Nhâm độn đại toàn Tập 1

GIỚI THIỆU

Những phép Chiêm đoán theo âm dương ngũ hành thường thấy ở Việt Nam: Những phép chiêm đoán dùng theo âm dương ngũ hành thường thấy ở Việt Nam trong 1 thế kỷ qua có nhiều loại, ở đây chỉ nếu một số loại thường gặp.
  1. Tử vi : Môn tử vi có ở Việt Nam đã lâu nhưng ở Miền Bắc rộ lên và được nhiều người biết đến từ sau năm 1975 khi miền nam hoàn toàn giải phóng.
    Đây là một môn khoa học nói về con người về đời người, nếu đương số có đủ 4 thông số ngày, giờ, tháng, năm sinh thì có thể lập 1 lá số. Nếu người có trí nhớ tốt, nghiên cứu tỉ mỉ cẩn thận thì có thể nói những diễn biến của con người về những điều họa, phúc, may, rủi của đời người độ chính xác tới 80%, nhưng phải nói ngày giờ tháng năm sinh chính xác, nếu nói sai là lấy lá số sai, hoặc không nhớ 04 thông số thì không lập được, dù có lá số đúng nhưng muốn hỏi một số việc như : Tôi muốn bán ngôi nhà đến khi nào bán được, tôi muốn hùn vốn làm ăn với người ta liệu có thành công không? những câu hỏi này dù người làm tử vi có giỏi cũng không thể trả lời quyết đoán, đấy là mặt hạn chế của khoa tử vi.
  2. Mai hoa dịch số : Cũng sử dụng 64 quẻ trong Kinh Dịch, tính theo hậu thiên bát quái, cách lập quẻ là tính giờ, khi những hiện tượng xảy ra như chim bay, gà gáy, chó sủa, sắc mặc người chợt gặp ngoài đường. vv..v….. những hiện tượng, những cảnh quan, đều là yếu tố bên ngoài, lại còn tùy thuộc vào tâm trạng và sự nắm bắt của người lập quẻ, nhưng thường chưa có độ chính xác cao.
  3. Kỳ môn độn giáp : Môn này chủ yếu dùng cho quân sự, như an đinh, hạ trại, hành quân nếu tiến công thì lợi chủ hay lợi khác vv… nên không áp dụng gì nhiều cho cuộc sống đời thường.
  4. Bói dịch : Chủ yếu dựa vào 64 quẻ Kinh dịch vào âm dương ngũ hành, vào 6 hào, lục thân, lục thần để làm ra quẻ, phép gieo quẻ bằng 3 đồng xu hiện nay là thông dụng nhất nhưng phải tuân thủ 3 yếu tó quan trọng là :
    1. Người gieo quẻ phải tập trung suy nghĩ vào việc mình cần hỏi ( không nghĩ lan man sang việc khác)
    2. Người đến hỏi quẻ phải tập trung suy nghĩ về điều mình cần hỏi
    3. Cách lập quẻ thích đáng, và phải hiểu thuần thục phương pháp đoán quẻ
Nếu làm đúng 3 yếu tố trên thì quẻ rất chính xác và linh nghiệm lạ thường. Có những công việc phải đi xa, hoặc các việc hệ trọng của gia đình, như xây lại mộ, khai trương cửa hàng …. hay đại loại là những công việc chính đáng thì kết quả rất mỹ mãn, chuẩn xác và linh nghiệm lạ thường nhưng mỗi lần gieo quẻ chỉ hỏi được một việc, nếu muốn hỏi sang chuyện khác thì phải gieo quẻ lại. Chẳng những vậy 3 đồng xu dày mỏng nặng nhẹ khác nhau, nhất là tâm trạng của người hỏi quẻ và người gieo quẻ đều ảnh hưởng đến kết quả của quẻ bói.
Người đến hỏi quẻ lại hỏi những việc không đúng đắn như : Tôi đi đánh bạc có được không? Tôi đi buôn trốn thuế có thoát không? Tôi muốn bỏ anh này để lấy anh kia có được không?
Nếu bói hỏi như vậy là báng bổ thần linh và chính bản thân người gieo quẻ đã tự đánh mất đi cái đạo mà tiên thánh tiên hiền đã ban cho, nói chung là đem sử dụng Kinh Dịch vào những việc bất chính thì Kinh Dịch không còn linh nghiệm nữa.
4. Môn Đại lục nhâm : Môn đại lục nhâm không biết có từ khi nào và do vị tiên thánh tiên hiền nào biên soạn, trong sách thường nêu những ví dụ về tên người, tên đất của thời Tam Quốc và chủ yếu dựa vào 64  quẻ trong kinh dịch, cách soạn thảo cũng khoa học hơn, cặn kẻ hơn các cuốn khác.. Rất có thể môn Đại lục nhâm có từ thời Tam Quốc (220 -280). Đây là một kỳ thư được biên soạn rất công phu tỷ mỷ, giảng giải cặn kẻ từng chi tiết. Lục nhâm là 6 chữ Nhâm ở trong lục thập hoa giáp đó là : Nhầm Dần, Nhâm Tý, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất.
Đại lục Nhâm kết hợp Âm-Dương, ngũ hành, thập can, thập nhị chi, 24 tiết khí trong năm để tìm ra Nguyệt tướng, lấy giờ chiêm quẻ để lập thiên bàn, thiên địa, 12 thiên thần, 12 thiên tướng, sử dụng sự chế hóa sinh khắc của âm dương ngũ hàn, vượng tướng hưu tù, sinh vượng, sinh vượng, mộ tuyệt, hình, xung, phá, hại, tam hợp, lục hợp. Tất cả những cái đó dệt nên một tấm lưới của tạo hóa không gì có thể ra ngoài tấm lưới đó được. Về chiều rộng thì vô cùng rộng lớn, về chiều sâu thì vô cùng sâu sắc, do vậy khi lập xong một quẻ ( độ 5 phút ) thì có thể chiêm đoán được nhiều việc cho một người, những việc quan trọng người đó đang mưu vọng, sẽ xảy ra lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối, vận hạn trong năm, nhà cửa, cha mẹ, vợ con, anh em  …
Quẻ được trải ra 12 cung và tam truyền, việc chiêm đoán không bị bó hẹp nhưng cũng rất kẹn kẽ ở những vấn đề người đến hỏi đang quan tâm. Đây là một kỳ thư được biên soạn công phu tỷ mỷ theo trình tự từ dễ đến khó có giải thích kỹ càng, có quẻ kiểu mẫu để dễ tham khảo, hệt như một cuốn sách giao khoa.
Một ví dụ nhỏ : Can Giáp thuộc Mộc với Can Mậu thuộc Thổ là can phá, vì sao lại phá > Can giáp thuộc mộc với Can kỷ thuộc thổ là can hợp, vì sao là hợp. Các điều khác nữa tương tự đều có giải thích cẩn thận rõ ràng, chứ không mơ hồ để ai muốn hiểu đến đâu thì hiểu.
 Nhâm độn đại toàn Tập 1

Nghiên cứu phong thủy và Phong thủy Việt Nam dưới góc độc khoa học


Đây là một bộ sách nghiên cứu về môn khoa học phong thủy bao gồm 3 tập:

Tập 1: Phong Thủy Tinh Túy

Tập này trình bày những điểm cốt yếu của khoa phong thủy, và để cho thấy bộ môn này thực chất là một tập hợp tri thức khoa học của cổ nhân, tuyệt không dính dáng gì đến các hình thức bùa phép hay thế lực siêu nhiên nào.

Tập 2: Phong Thủy Trên Đất Nước Việt Nam

Sách nghiên cứu về phong thủy của cổ nhân trước tác (dù cho của tác giả Việt Nam) đều là viết về đất nước Trung Quốc, với những Hoàng Hà, Trường Giang, Thái Sơn, Côn Lôn... rồi đời sau cứ thế mà sao chép, thành ra xa rời thực tế. Ở đây, các tác giả tìm hiểu kỹ về sông núi Việt Nam, để thấy rằng đất nước ta vẫn có đầy đủ anh linh tú khí không kém một quốc gia nào khác!

Tập 3: Phong Thủy Ứng Dụng

Đây là phần quan trọng nhất của khoa học phong thủy và tất nhiên là phần quan trọng nhất của cuốn sách. Hy vọng rằng sau khi sơ bộ tìm hiểu khoa học phong thủy theo sự hướng dẫn trong sách, bạn đọc một lần nữa sẽ nhận ra tính chất gần gũi, mật thiết với nhân sinh của các bộ môn học thuật truyền thống.

Link download:
 Nghiên cứu phong thủy và Phong thủy Việt Nam dưới góc độc khoa học

Nghệ thuật xem chữ ký - Huỳnh Liên Tử


Chữ ký nào mà không có nét tới nét lui hoặc đường lên nét xuống, tất cả đó chỉ là chi tiết giải đoán về tâm tánh cũng như mệnh số của con người. Để giải đoán những chi tiết cụ thể của một chữ ký, không gì bằng trưng dẫn một chữ ký ra đây để chúng ta cùng khảo nghiệm.
Nếu chữ ký đó thiếu đi một vài nét hoặc thêm một vài nét, sự đổi thay không có chủ ý đó không phải là một lẽ tự nhiên thông thường mà chính là một biến chuyển mới, một sự báo trước có liên quan đến tướng mệnh trong những ngày tháng sắp đến. Biến chuyển đó có thể là một sự tốt mà cũng có thể là một sự xấu. 

Để giúp bạn có thể đoán biết được những biến chuyển đó, chúng tôi xin đưa ra lý đoán như sau:
Chữ ký của bạn đột nhiên thêm nhiều đường nét mới, nếu những đường nét đó thanh thoát rõ ràng không khúc mắc, gây góc thì sắp đến bạn sẽ có tin mừng, có sự phát triển về công danh hoặc tiền bạc.

Nếu những đường nét thêm vào đó mà nhiều gút thắt (chữ thập) bị gãy góc, hoặc ngoằn ngoèo, khó đọc thì sắp đến bạn nên đề phòng sự ốm đau, một sự dao động về tình cảm.

Nếu sự thiếu nét đó diễn biến qua hình chữ ký số 3 thì bạn sắp có một sự di chuyển mới, là công chức quân nhân thi sắp đổi đi nơi khác, là người buôn bán thương mãi làm ăn thì sắp gặp một trở ngại lớn về sự ký kết khế ước, sự hùn hạp, sự bế tắc công việc, cần phải đi xa để giải quyết.


Link download:
 Nghệ thuật xem chữ ký - Huỳnh Liên Tử

Mẫu Thượng Ngàn


Link Download: Mẫu Thượng Ngàn

Mai hoa dịch số


Mai Hoa Dịch Số
NXB Văn Hóa Thông Tin  2006
Thiệu Khang Tiết
Dịch: Ông Văn Tùng
672 Trang ​

Mai Hoa Dịch Số là bộ kỳ thư đích thực trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, là viên ngọc vô giá của khoa chiêm bốc dự trắc học và tướng học của nước ta; tương truyền là của Thiệu Khang Tiết, nhà đại triết học và đại dịch học đời Tống soạn. 

Toàn bộ tập sách gồm 5 quyển. Từ thời Tống đến nay, nó luôn luôn được các bậc vua chúa và nhân dân cùng làm căn cứ lý luận cho khoa chiêm bốc và dự trắc học.

Đây là bộ sách tham khảo quan trọng để nghiên cứu dân tộc học, Dịch học, triết học, văn hóa, giáp cốt văn, văn hóa nhân loại học của Trung Quốc. Đó cũng là bộ sách mà các nhà học giả đã từng quan tâm nghiên cứu “Chu Dịch” phải tìm đọc.

Cùng với Kinh DịchMa Y Tướng ThuậtMai Hoa Dịch Số được coi là một trong ba bộ sách lớn (Tam đại kỳ thư) về Tướng học và Dự trắc học Trung Quốc.

Mai Hoa Dịch Số (Hán tự: 梅花易數) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành, bát quái kết hợp thuyết vận khí, bát quái kết hợp ngũ hành… bằng cách lập quẻ chính, hào động và quẻ biền; căn cứ vào sự vật, hiện tượng quan sát hay nghe được, đo đếm được hoặc giờ, ngày, tháng, năm xảy ra (theo âm lịch).

Xem bói về sự việc, hiện tượng và xem về vận mệnh của con người, tương tự như Tử vi, Bát tự Hà Lạc…

Thiệu Ung (邵雍) (1011 - 1071), tự là Nghiêu Phu (堯夫), hiệu là Khang Tiết (康節), người đời Bắc Tống (Trung Quốc) đã nghiên cứu và phát triển Dịch học và đã có những đóng góp to lớn. Ông đã dùng bát quái để dự đoán thông tin, sáng tạo ra phương pháp lấy quẻ theo sự vật, hiện tượng quan sát hay nghe được hoặc giờ, ngày, tháng, năm (theo âm lịch) xảy ra; dùng các phép tính cộng - trừ - nhân - chia để lập quẻ; tìm ra hào động; căn cứ sự sắp xếp của âm dương ngũ hành bát quái cùng các phương pháp phân tích vận khí suy vượng, ngũ hành sinh khắc, quẻ thể, dụng cùng với văn từ của Chu Dịch để đoán giải vận hạn, đoán giải sự việc.


Mai Hoa Dịch Số được trình bày ngắn gọn, ý đầy đủ, giản dị dễ hiểu, tin rằng bạn đọc sẽ  tiếp thu được nhiều điều bổ ích.

Link Download: 


 Mai hoa dịch số


Lý thuyết tượng số

Lý thuyết tam nguyên - cửu vận và nguyên lý dự báo cổ

Lý thuyết nhận dạng ứng dụng trong quản lý

Lịch Đinh Hợi - Nguyên lý chọn ngày theo Can Chi

Kinh dịch xưa và nay


Link Download: Kinh dịch xưa và nay

Kinh dịch và hệ nhị phân - Hoàng Tuấn

Kinh dịch trọn bộ


Link Download: Kinh dịch trọn bộ

Hoạt nhân toát yếu


Link Download: Hoạt nhân toát yếu

Án ma chân pháp - Hoàng Vũ Thăng

Atlas sinh lý học (NXB Y học)

Kinh huyệt và biện chứng đông y học

Hướng dẫn sử dụng thước lỗ ban

Khoa học nhận dạng


Link Download: Khoa học nhận dạng

Khoa cúng tổng hợp


Cúng lễ an trạch phần sài; thiên đài; tam phủ đối khám; tam phủ thục mãnh tiễn căn cầu an; tứ phủ-hội đồng; sám tạ đức ông-long thần; phát tấu nghi; đương niên dương ảnh; tam tai giải hạn; thiên quan; nhương tinh; kỳ thiên; tạ phần mộ; Minh vương thục án;
Nếu bạn từng băn khoăn không biết đọc gì, khấn gì, vái gì mỗi khi muốn cúng bái, cầu xin thì đây cũng là một quyển sách để bạn tham khảo.
Sách do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đứng tên soạn (do Sa Môn Bảo Tịnh thu thập, tổng hợp lại). Được hoàn thành năm 1994.
Link Download: 

Hằng số luân hồi thái cực hoa giáp

Hi di với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống